HƯỚNG DẪN LÂM SÀNG VỀ NGỘ ĐỘC KHÍ CARBON MONOXID (CO)
GS.TS Nguyễn Trường Sơn
Trung tâm Y học dưới nước và Oxy cao áp
Viện Y học biển Việt Nam
Carbon monoxide (CO) là một loại khí độc không mùi, không màu, có thể gây ra bệnh tật và tử vong đột ngột nếu tồn tại ở nồng độ vừa đủ trong không khí xung quanh. Khi mất điện xảy ra trong các trường hợp khẩn cấp như bão hoặc bão mùa đông, việc sử dụng các nguồn nhiên liệu hoặc điện thay thế để sưởi ấm, làm mát hoặc nấu ăn có thể gây ra khí CO tích tụ trong nhà, ga ra hoặc nơi cắm trại và gây ngộ độc cho người và động vật bên trong . Máy phát điện, lò nướng, bếp cắm trại, hoặc các thiết bị đốt bằng xăng, khí propan, khí đốt tự nhiên hoặc than củi khác không bao giờ được sử dụng trong nhà, tầng hầm, nhà để xe hoặc trại cắm trại – hoặc thậm chí bên ngoài gần cửa sổ đang mở hoặc máy điều hòa không khí.
- Cách Nhận biết Ngộ độc CO
Các triệu chứng và dấu hiệu của ngộ độc carbon monoxide rất khác nhau và không đặc hiệu. Các triệu chứng phổ biến nhất của ngộ độc CO là nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, đau ngực và tình trạng tâm thần bị thay đổi.
- Biểu hiện lâm sàng của ngộ độc CO
Độc tính của khí CO tác dụng lên toàn bộ cơ thể. Tác động của nó không chỉ do sự cung cấp oxy bị suy giảm mà còn do làm gián đoạn quá trình sử dụng oxy và hô hấp ở cấp độ tế bào, đặc biệt là ở các cơ quan có nhu cầu oxy cao (tức là tim và não).
3.Các triệu chứng của ngộ độc CO nghiêm trọng
Bao gồm khó chịu, khó thở, nhức đầu, buồn nôn, đau ngực, mất khả năng điều hòa các hoạt động của cơ thể, trạng thái tâm thần thay đổi, các triệu chứng thần kinh khác, mất ý thức, hôn mê và tử vong; các dấu hiệu cơ bản bao gồm nhịp tim nhanh, thở nhanh, hạ huyết áp, các phát hiện thần kinh khác nhau bao gồm suy giảm trí nhớ, rối loạn nhận thức và cảm giác; nhiễm toan chuyển hóa, loạn nhịp tim, thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc nhồi máu, và phù phổi không do tim, mặc dù bất kỳ hệ thống cơ quan nào cũng có thể liên quan.
Việc khai thác bệnh sử một cách cẩn trọng sẽ giúp chúng ta phát hiện bệnh nhân có tiếp xúc với nguồn CO có thể trở nên rõ ràng hơn. Việc kiểm tra, chẩn đoán và điều trị thích hợp và nhanh chóng là rất quan trọng.
- Các nguồn gây ngộ độc CO
– Máy phát điện chạy bằng gas, xăng, dầu
– Lò nướng than, bếp propan và than bánh để nấu ăn và sưởi ấm trong nhà
– Xe cơ giới có máy lạnh và động cơ chạy bằng xăng, dầu
– Hoả hoạn, đốt củi hoặc rơm rạ ở trong nhà
– Tàu thuyền
Máy rửa điện và các dụng cụ chạy bằng khí gas khác.
Các đối tượng có nguy cơ bao gồm:
– Trẻ sơ sinh và trẻ em
– Phụ nữ mang thai
– Người già
– Người bị bệnh tim mãn tính, thiếu máu hoặc bệnh đường hô hấp.
- Sự đánh giá
– Chẩn đoán dựa trên tiền sử gợi ý và các phát hiện vật lý (đo nồng độ khí CO tại nơi xảy ra tan nạn) cùng với xét nghiệm khẳng định. Bệnh nhân cần được kiểm tra các tình trạng khác, bao gồm hít phải khói chứa khí độc, chấn thương, bệnh nội khoa hoặc nhiễm độc khác.
– Kiểm tra thần kinh nên bao gồm đánh giá chức năng nhận thức, chẳng hạn như kiểm tra trạng thái tâm thần.
– Tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nếu nghi ngờ bị ngộ độc khí CO nên thử thai.
- Chẩn đoán xác định
Chìa khóa để xác nhận chẩn đoán là đo mức carboxyhemoglobin (HbCO) của bệnh nhân.
Mức HbCO có thể được kiểm tra trong máu toàn phần hoặc máy đo oxy qua mạch.
Điều quan trọng là phải biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua kể từ khi bệnh nhân rời khỏi môi trường độc hại, bởi vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến mức HbCO. Nếu bệnh nhân đã hít thở không khí trong phòng bình thường trong vài giờ, xét nghiệm HbCO có thể ít hữu ích hơn.
Công nghệ phổ biến nhất hiện có trong các khoa xét nghiệm bệnh viện để phân tích máu là máy quang phổ nhiều bước sóng, còn được gọi là máy đo CO-O2. Hoặc máy đo khí máu. Máu tĩnh mạch hoặc động mạch có thể được sử dụng để xét nghiệm.
Máy đo CO-O2 theo nhịp đập ở đầu ngón tay có thể được sử dụng để đo nhịp tim, độ bão hòa oxy và mức HbCO. Loại máy đo oxy xung hai bước sóng thông thường không chính xác khi có HbCO.
Mức HbCO không hoàn toàn tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh, kết quả hoặc đáp ứng với điều trị. Vì vậy, điều quan trọng là phải đánh giá các triệu chứng lâm sàng và tiền sử phơi nhiễm khi xác định loại và phác đồ điều trị.
Có thể cần các xét nghiệm khác, chẳng hạn như kiểm tra lượng đường trong máu, rượu và chất độc, chụp CT đầu hoặc chọc dò tuỷ sổng đoạn thắt lưng để loại trừ các nguyên nhân khác gây ra tình trạng tâm thần bị thay đổi khi không thể kết luận chẩn đoán ngộ độc carbon monoxide.
Lưu ý: Carbon monoxide có thể được sản xuất nội sinh như một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa heme. Bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm có thể có mức HbCO tăng cao do thiếu máu huyết tán hoặc chứng huyết tán.
Mức HbCO tăng 2% đối với người không hút thuốc và mức HbCO > 10% đối với người hút thuốc hỗ trợ mạnh mẽ cho chẩn đoán ngộ độc CO.
- Hướng dẫn xử trí ngộ độc CO đã được xác nhận hoặc nghi ngờ
Cho thở oxy 100% cho đến khi bệnh nhân hết triệu chứng, thường khoảng 4-5 giờ. Khám thần kinh nối tiếp nên được thực hiện để đánh giá tiến triển và phát hiện các dấu hiệu phát triển phù não.
Các cơ sở y tế có điều kiện phải cho bệnh nhân điều trị bằng oxy cao áp (OXCA) ngay khi bệnh nhân có mức HbCO trên 25-30%, có bằng chứng về tim, nhiễm toan nặng, bất tỉnh thoáng qua hoặc kéo dài, suy giảm thần kinh, xét nghiệm tâm thần kinh bất thường hoặc bệnh nhân ≥ 36 tuổi. HBOT cũng được sử dụng ở mức HbCO thấp hơn (<25%) nếu được đề nghị bởi tình trạng lâm sàng và / tiền sử phơi nhiễm. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, chỉ định Oxy cao áp trị liệu cần phải được tiến hành ngay cả khi HbCO đã trở về mức bình thường vì tổn thương do khí CO và tình trạng thiếu oxy sẽ còn tiếp tục kéo dài và để lại những hậu quả nặng nề về sau.
OXCA là phương pháp điều trị được lựa chọn cho phụ nữ mang thai, ngay cả khi họ bị ngộ độc ít nghiêm trọng hơn. Oxy cao áp là rất an toàn để sử dụng và quốc tế cũng có sự đồng thuận và ủng hộ nó như là một biện pháp điều trị tích cực hơn trong điều trị phụ nữ mang thai.
- Những ý kiến khác
Tổn thương tim khi ngộ độc làm tăng nguy cơ tử vong trong hơn 10 năm sau khi ngộ độc, vì vậy ở những bệnh nhân ngộ độc CO nặng, điều quan trọng là phải thực hiện làm điện tâm đồ và định lượng enzym troponin và enzym CKMB.
Trong những trường hợp trúng độc năng có thể dẫn đến suy đa tạng, việc điều trị bằng oxy cao áp sẽ giúp khôi phục các chức năng cơ quan bị suy nhanh chóng phục hồi. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy chưa có ca suy đa tạng nào do ngộ độc oxy phải lọc máu. Có lẽ các trường hợp quá năng thì có thể phối hợp lọc máu và hồi sức cao áp.
Chụp X quang ngực được khuyến khích cho những bệnh nhân bị ngộ độc nặng, đặc biệt là những người bị mất ý thức hoặc các dấu hiệu và triệu chứng tim phổi. Chụp cắt lớp vi tính não hoặc MRI cũng được khuyến khích trong những trường hợp này; những xét nghiệm này có thể cho thấy dấu hiệu của nhồi máu não thứ phát do thiếu oxy hoặc thiếu máu cục bộ và phù não.
Tất cả các bệnh nhân xuất viện cần được cảnh báo về các biến chứng thần kinh có thể xảy ra chậm và được hướng dẫn về những việc cần làm nếu những biến chứng này xảy ra. Việc theo dõi nên bao gồm một cuộc kiểm tra y tế và thần kinh lặp lại sau 2 tuần.
